TRIỆU CHỨNG NHẬN BIẾT BỆNH VẢY NẾN

Bệnh vẩy nến rất đáng lo ngại nó không chỉ làm bạn bị kém sắc, thiếu tự tin mà còn làm bạn khó chịu. Tuy không phải là căn bệnh gây chết người những cũng khiến ngoại hình của bạn nhìn mà muốn độn thổ xuống đất thôi. Vậy triệu chứng nhận biết bệnh vẩy nến như thế nào?

Tham khảo bài viết: Tổng quan về bệnh vảy nến / Biện pháp khắc phục bệnh vảy nến

Ảnh minh họa
Da bị bệnh vảy nến

Dưới đây là những dấu hiệu thường gặp ở bệnh vảy nến:

  • Thương tổn da: Biểu hiện ban đầu là bị rát đỏ bắt đầu hình thành những vẩy màu trắng phủ nên bề mặt của da rồi dần dần các lớp vẩy này nhiều lên chồng xếp lên nhau và bị bong tróc như giọt nến nên dân gian gọi là bệnh vẩy nến.
  • Vị trí điển hình nhất của các dát đỏ có vảy là vùng tì đè, hay cọ xát như: Các vùng dễ bị như khuỷu tay, đầu gối, rìa tóc, vùng xương cùng, mông… và nó có thể lan ra toàn thân sau 1 thời gian tiến triển.
  • Thương tổn móng: Khi bị bệnh này đến móng tay cũng thường bị chuyển sang màu vàng đục và bị rỗ trên bề mặt chúng dễ bị mủn và làm mất móng. Bạn thử tưởng tượng xem bạn không có móng tay chông sẽ xấu xí đến nhường nào.
  • Thương tổn khớp: Không chỉ có da, móng bị tổn thương mà ngay cả khớp ở tây chân cũng có thể bị tổn thương, tuy tỷ lệ này không cao nhưng vẫn phòng tránh. Thường hay gặp là viêm khớp mạnh tính, biến dạng khớp, cứng khớp…Với diện mạo không được xinh đẹp cộng thêm việc viêm khớp khiến cho bạn khó cử động và cử động không linh hoạt thì đúng là cơn ác mộng.

Bên cạnh đó, theo Đông y chia bệnh vảy nến ra các thể bệnh khác nhau để có thể dễ nhận biết bệnh.

  • Bạch Tiêu Phong (Can Tính Bì Chỉ Dật): thường ở nhiều ở vùng đầu, có mầu trắng tro hoặc đục như màu mỡ của động vậy nếu để lâu ngày sẽ sinh ra việc nên hói hay rụng tóc.
  • Phong Nhiệt Sang (Mai Côi Đường Chẩn): có những nốt nổi ban chủ yếu ở vùng da bị khô, chúng có hình tròn màu hơi trắng bạc và đặc biệt có thể tự khỏi.
  • Hồ Niệu Thích (Mao Phát Hồng Đường Chẩn): có những vết ban phía trên da và chúng có đầu nhỏ mầu trắng đục, không làm trắng da và không rướm máu.
  • Vảy nến thể chấm giọt: cần phân biệt với sẩn giang mai II (cộm, màu đỏ sẫm, có viền Biệt), Á vảy nến thể giọt (vảy màu nâu, cậy bong ra thành một lớp như gắn xi).
  • Ở da đầu, da mặt trẻ em cần phân biệt với á sừng liên cầu.
  • Ở các móng cần phân biệt với nấm móng.
  • Ở nếp kẽ phân biệt với hăm kẽ, loét kẽ.
  • Thể Phong Nhiệt: Da có những nốt chấm xuất hiện nhiều, liên tục, lâu ngày to dần, màu trắng đục, ngứa nhiều, chúng mọc hầu hết ở tay, chân hoặc ở đầu, mặt, râu, và gây hoại tử da sau đó có chấm xuất huyết và kèm theo ngứa ngáy, sốt, khát, họng khô, đau, lưỡi đỏ sậm, có rêu lưỡi màu hơi vàng.
  • Thể Phong Huyết Táo (gặp ở thể bệnh kéo dài): Trên da có nhiều nốt ban chẩn mới ít xuất hiện, những nốt cũ màu hơi đỏ, ngứa ngáy, mặt da thì khô, lưỡi ít tân dịch, rêu lưỡi hơi vàng mà khô.
  • Thể Phong Hàn: Trên da có nhiều vết chấm xuất hiện giống như đồng tiền hoặc từng mảng màu hồng, trên mặt mụn có thể bị thối nát và phát bệnh quanh năm. Từ mùa đông đến mùa hè thường tự bớt hoặc giảm ẩn đi, lưỡi có màu hồng nhạt, rêu lưỡi màu trắng nhạt.
  • Thể Thấp Nhiệt: Trên da có nhiều vết chấm xuất hiện giống như nước trong lỗ rỉ ra, xuất hiện ở bên dưới bầu vú, vùng hội âm, khuỷu tay, hố mắt, vùng sinh dục, mầu da có mầu hồng xám, thường gom lại thành mảng lớn, vùng mà bị tổn thương sẽ chảy nước mầu trắng đục, hơi ngứa, miệng khô, không khát, cơ thể nóng, mệt mỏi, lưỡi màu đỏ sậm, rêu lưỡi màu vàng hoặc có ngấn bệu.
  • Thể Huyết Nhiệt: Bệnh mới phát hoặc tái phát không lâu, có vết sần nổi lên như dạng đồng tiền hoặc như bùn, thường nổi hạt nhỏ như ban chẩn, to nhỏ không đều, màu hồng tươi, mọc nhiều ở tứ chi (chân tay), có thể mọc ở vùng đầu và mặt trước, bề mặt của vết sần có mầu trắng đục, khô, vỡ nát có khi có rướm máu, kèm theo ngứa, tâm phiền, khát, táo bón, tiểu ít, nước tiểu vàng, lưỡi đỏ sậm, rêu lưỡi màu hơi vàng
  • Thể Huyết Ứ: Trên da xuất hiện những vết ban mầu đỏ tối hoặc tím, to nhỏ không đều, bề mặt hơi lõm, khô trắng đục, không bong da, có một ít vết ban nhỏ mới xuất hiện kèm theo ngứa hoặc không ngứa, miệng khô, không muốn uống, lưỡi màu đỏ tối hoặc có điểm ứ huyết, rêu lưỡi màu trắng nhạt hoặc hơi vàng.
  • Thể Huyết Hư: Làm cho cơ thể vốn suy yếu, bệnh kéo dài lâu ngày, da chuyển sang màu trắng bệch, xuất hiện nhiều vết ban có dạng giống như từng mảng hoặc phát ra toàn thân, màu hồng nhạt ướt hoặc nhạt tối, bong da có những vết ban mới xuất hiện, ngứa, nặng hoặc nhẹ mầu da cũng không thay đổi, kèm theo chóng mặt, ngủ kém, ăn uống cũng bị kém không ngon miệng, lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi ít, ít tân dịch.
  • Mạch Xung Nhâm Không Điều Hoà: Da bắt đầu bị nổi nhiều nốt sẩn đặc biệt vào thời kỳ kinh nguyệt, có thai, sinh đẻ, đa số trước khi có kinh, đang có thai và trước khi sinh thì phát nặng hơn, có một ít sau khi có kinh và sau khi sinh mới phát tán cả cơ thể. Lúc này toàn thân người bệnh nổi lên những vết ban mọc thành đám, màu đỏ tươi sau đó trở thành trắng đục, lúc mới phát có những vết xuất huyết. Toàn thân hơi ngứa, tâm phiền muội, miệng bị khô, đầu choáng váng, lưng bị đau, lưỡi màu đỏ sẫm hoặc đỏ nhạt, rêu lưỡi có màu trắng.
  • Nhiệt Độc Thương Doanh: Chứng này thường phát bệnh nhanh, toàn thân đều bị nổi ban đỏ, có màu đỏ tím hoặc đỏ sẫm, da nóng, ấn vào thì nhạt mầu, sưng phù, bong da, toàn thân sốt cao, sợ lạnh, tâm phiền, khát, tinh thần uể oải, tay chân không có sức, lưỡi màu đỏ sẫm, ít tân dịch (rất dễ bị nhầm với bệnh về da khác)
bệnh vảy nến
Hãy chăm sóc cơ thể thật tốt để có một làn da đẹp – ảnh minh họa

Triệu chứng nhận biết bệnh vẩy nến bạn đã rõ đến tỉ mỉ từng chứng nhỏ một, các bệnh về da thông thường có biểu hiện gần giống nhau nên bạn đừng chủ quan hãy tới khám chuyên khoa càng sớm càng tốt nhé.

Đăng bởi: Admin

Gửi trả lời